Viêm mũi dị ứng (tên tiếng Anh là allergic rhinitis) gây ra các dấu hiệu và triệu chứng giống như cảm lạnh, như sổ mũi, ngứa mắt, nghẹt mũi, hắt hơi và tăng áp lực xoang. Nhưng không giống như cảm lạnh, viêm mũi dị ứng không phải do virus gây ra mà do phản ứng dị ứng với các chất gây dị ứng ngoài trời hoặc trong nhà, chẳng hạn như phấn hoa, mạt bụi hoặc nước bọt của mèo, chó và các động vật khác có lông.

Bên cạnh việc làm cho bạn khổ sở về bệnh thì viêm mũi dị ứng có thể ảnh hưởng đến khả năng làm việc hoặc học hành và thường ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người mắc phải. Nhưng người bệnh có thể học cách tránh các yếu tố kích hoạt và tìm ra phương pháp điều trị phù hợp.

Nguyên nhân bệnh Viêm mũi dị ứng

Các chất gây dị ứng đường hô hấp (lưu hành trong không khí) nguyên nhân thường gặp nhất của viêm mũi dị ứng là :

–  Các chất gây dị ứng trong nhà : bụi, vật nuôi trong nhà, gián, nấm mốc. Nấm mốc phát ra các bào tử nhỏ xâm nhập vào trong mũi và cả hai phế quản. Loại thường gặp nhất, mặc dù nói chung là không phổ biến trong các nguyên nhân là: Alternaria, Cladosporium, Aspergillus và Penicillium.

Nguyên Nhân Triệu Chứng Viêm Mũi Dị Ứng
Nguyên Nhân Triệu Chứng Viêm Mũi Dị Ứng

–  Các chất gây dị ứng trong không khí: phấn hoa lúa, phấn hoa cỏ (armoise) phấn hoa từ cây khác nhau giữa các khu vực địa lý Betulaceae (bạch dương, cây bulô tại khu vực phía Bắc) Oleaceae (tro hoặc ô liu) Fagaceae (cây sồi) Cupressaceae (cây bách ở phía nam). Lịch phấn hoa cũng như các trang web cung cấp thông tin về mức độ phấn hoa là trang web của RNSA (mạng lưới quốc gia về giám sát không khí) là rất hữu ích để thiết lập việc điều trị triệu chứng và xác nhận sự tương quan lâm sàng.

–  Các chất gây dị ứng nghề nghiệp: cao su (Sức khỏe Nghề nghiệp), thợ làm bánh (bột), thợ cắt tóc (chất persulfates), nhà sinh vật học, bác sĩ thú y (động vật) … Các chất gây dị ứng chéo như nhựa mủ cây chuối, kiwi, trái bơ là rất phổ biến đặc biệt là đối với phấn hoa Betulaceae (hạt nhân chiên như đào, táo, cerise, cà rốt, rau mùi tây, cần tây). Danh sách các chất gây dị ứng chéo là rất dài. Không có mối quan hệ chéo rõ ràng giữa các dị nguyên trong không khí và dị nguyên thức ăn . Bệnh nhân nên được hỏi bệnh về sự tồn tại của các phản ứng với thức ăn như sưng môi, vết phỏng, cảm giác kim châm hoặc phồng lưỡi hoặc cổ họng khi ăn uống có thể là nguồn gốc gây ra dị ứng chéo.

Triệu chứng bệnh Viêm mũi dị ứng

Các triệu chứng lâm sàng là hậu quả của sự giải phóng ngay lập tức hay trì hoãn các hóa chất trung gian (không hạt) của các tế bào hiện diện trong niêm mạc mũi và vòm họng.

Viêm mũi dị ứng có hai thể: chu kỳ và không có chu kỳ.

–  Thể bệnh có chu kỳ: thường xảy ra đột ngột về đầu mùa lạnh hay đầu mùa nóng, bệnh nhân thấy nhột cay trong mũi, hắt hơi liên tục vài chục cái, cay mắt, đỏ mắt, chảy nước mắt. Sau đó mũi chảy nước đầm đìa, nước mũi trong như nước lã. Người bệnh còn có cảm giác rát bỏng ở kết mạc, vòm họng. Bệnh nhân bị nặng đầu, mệt mỏi uể oải, sợ ánh sáng, nên thường tìm chỗ tối để nằm. Cơn dị ứng xuất hiện nhiều lần trong ngày, tối dịu đi, bệnh kéo dài trong vài ngày đến một tuần rồi tự biến mất. Hàng năm vào đúng thời kỳ đó bệnh lại tái diễn, có những bệnh nhân bị bệnh hàng chục năm. Ở một số bệnh nhân cao tuổi, do bệnh kéo dài nhiều năm, tổn thương làm cho niêm mạc mũi thoái hóa, phù nề gây ngạt mũi; các xương xoăn mũi to phình lên, xen với những polip.

–  Thể bệnh không có chu kỳ: hay gặp nhất, bệnh nhân thường bị sổ mũi vào lúc sáng sớm thức dậy, giảm đi trong ngày, tái phát khi gặp luồng gió, gặp lạnh, tiếp xúc với bụi. Thời kỳ đầu nước mũi trong, thời gian sau đó đặc lại thành mủ, nước mũi chảy thành từng đợt, có khi viêm loét vùng tiền đình mũi; hắt hơi hàng tràng, trường hợp nặng hắt hơi liên tục nhiều giờ trong ngày, gây mệt mỏi, giảm trí nhớ; ngạt mũi thay đổi tùy theo thời gian, thời tiết và theo mùa; do nghẹt mũi bệnh nhân phải thở bằng miệng dẫn đến viêm họng, viêm phế quản; các triệu chứng ngứa trong mũi, đau thắt ở gốc mũi, do tiết dịch ứ đọng trong vòm họng nên bệnh nhân luôn phải khạc nhổ; niêm mạc mũi phù nề, nhợt nhạt, phủ dịch nhầy loãng, hoặc mủ đặc, màu trắng hoặc vàng, xanh khi có bội nhiễm vi khuẩn; niêm mạc mũi bị thoái hóa biến thành polyp to nhẵn.